Người theo dõi

5 thg 3, 2011

CHỮ NHO VÀ ĐỜI SỐNG DÂN TỘC VIỆT (anviettoancau.net)


                                           2- Dạy Nho cách nào?

Điều này tối quan trọng, vì có những cách dạy chữ Nho mà vẫn bật rễ như thường.
Ta hảy thử kiểm điểm xem có bao nhiêu lối học chữ Nho. Thưa có ít là ba lối:
a.- Một là học như một Sinh Tự
b.- Hai là học theo lối Sinh Tự, Sinh Ngữ
c.- Ba là học như là Linh Tự, Linh Ngữ.
Học như sinh tự là của người Tàu, họ đã biết Sinh Ngữ rồi, không cần học lắm nữa, nay chỉ học thêm mặt chữ, vậy gọi là Sinh Tự.
Người ngoại quốc muốn học chữ Tàu phải học cả Sinh Tự lẫn Sinh Ngữ, nghĩa là học cả chữ lẫn tiếng.
Còn lối giáo dục khi được đưa Nho vào thì cốt yếu dạy theo lối Linh Tự, Linh Ngữ, nghĩa là học Nho là học cái Đạo làm Người, mà Tiên Tổ đã bao đời kinh nghiệm tích lũy lại. Nói cụ thể là lấy ngay những sách đã được tuyển chọn làm sách dân tộc làm kinh điển để dạy. Dạy như thế trước hết là nhắm vào nội dung, rồi mới đến mặt chữ. Mặt chữ phải giúp vào việc duy trì nội dung. Nên khi học Nho theo lối linh tự linh ngữ thì khi học xong người học đã được truyền thụ lại cho một nền đạo lý của Tổ Tiên, có thể dùng làm mối dây để xỏ thêm các sự hiểu biết mới, thành ra phong phú tới đâu cũng có một tiêu điểm để hướng tới, rồi có thể làm cho thêm phong phú, như thế là có tiêu điểm để y cứ, để khỏi vật vờ và nhờ đó trở nên mạnh mẽ. Đó là mục tiêu tối hậu của giáo dục.
Nói khác đi khi dạy Nho theo Linh Tự hay Linh Ngữ là người dạy đã làm tôn hẳn giá trị của chữ Nho lẫn giá trị người dạy, ngược lại dạy khi dạy theo lối Sinh Tự Sinh Ngữ chỉ là việc của nhà chuyên môn, hiện nay không mấy cần thiết.
Xin ghi nhớ rằng lối dạy này là đi từ tổng quát tới phân tích là lối được nền giáo dục mới đang khám phá ( Méthode globale idéovisuelle của Decroly ), bắt đầu dạy thuộc lòng câu sách, rồi sau đến nhận mặt chữ, ít năm sau đến ngữ luật, rồi ít năm sau lại đến ý tứ sâu xa. Đó là lối đi từ tổng quát thị giác đến ý nghĩa: rất hợp tâm lý vậy.
                        3- Cái lợi của việc học Nho và học thuộc lòng

Mặt khác đem Nho giáo mà dạy cho các em là đặt các em vào trong thế giới ngôn ngữ của tiềm thức ( substract linguistique inconscient ) với những danh từ không bị quy định để quyện theo sức mạnh của cảm xúc, rất dễ giúp đi vào vùng tiềm thức nghĩa là có được những trực giác giàu nội dung tâm tình sâu xa. Cần nhất là học thuộc lòng, rồi thứ đến là nhận mặt chữ và biết nghĩa đen mỗi câu và chỉ cần có thế. Đề nghị này nghe như chướng tai, nhưng nghĩ thế là tại óc duy trí hiện tại. Theo duy Trí thì chỉ có Lý trí mới có giá trị, nên giáo dục thường bị cám dỗ dạy trẻ như kiểu người lớn là tập suy luận. Đó là sự quá trớn của óc duy lý, chuyên tôn thờ óc suy luận mà hạ giá mọi năng khiếu khác, nhất là trí nhớ, coi sự thuộc lòng như là học tủ, không hiểu chi . . Đó cũng tại sự phản động lại lối học từ chương xưa đã quá quan trọng việc ký tụng thuộc lòng.
Đã nói tới phản động là nói tới quá trớn không còn nhận ra giá trị của trí nhớ, và coi học thuộc lòng là vô bổ, không biết tới 4 đợt suy luận của con người mà ta đã nêu trên.
Trẻ chưa mở mắt đã dạy suy luận ngay là sai lầm. Sự sai lầm đó đang được khoa phân tâm vạch trần, bằng tìm ra những ơn ích sâu xa của sự học thuộc lòng: lúc đã đọc đi đọc lại một số câu thì chú ý không phải là để ở giòng chữ với nghĩa nữa, nó rút dần vào nội tâm để gây tác động. Tác động đó càng mạnh khi bản văn đã học thuộc lòng lại là bản văn đã đúc kết tư tưởng vào trong những câu vắn tắt cô đọng, lúc đó những ý tưởng dễ thấm sâu vào tiềm thức và gây ảnh hưởng mạnh mẽ ngoài tầm sức của lý trí và ý muốn.
Đó là luật tâm lý học đã được các nhà phân tâm nhận ra và áp dụng vào việc tự kỷ ám thị “ des paroles répétées inconscienment ont une action. On peut admettre une sorte de concentration parfaitement machinale et inconsciente ”.
Sự học thuộc lòng được nhận ra có công hiệu giúp rất nhiều vào việc làm tăng trưởng sự chú ý kéo dài ( attention volontaire soutenue ), vì thế đó là trong những cột trụ của giáo dục. nên câu nói : “ lặp lại nhiều lần là linh hồn của sự dạy dỗ ”, có thể coi như châm ngôn của nhà giáo dục nhất ở đợt tiểu học ( la répétition est l’âme de l’enseignement: xem Suggestion et Autosuggestion của Charles Baudoin, édition Delachaux, trang 126, 133, 144 )
Có đọc nhiều Phân Tâm ta mới hiểu Đông Tây, Kim Cổ đều coi trọng việc ký tụng, có tôn giáo còn làm thành những lời thần chú, những kinh cầu để nhật tụng là cốt cho tư tưởng được ngấm sâu vào tới tận tiềm thức. Trong cuốn “ Les fondements de la mystique tibétaine ông Govinda có viết : “ Dùng cách lắp đi lắp lại có nhịp nhàng để đóng sâu vào một tư tưởng, tạo dựng một ý nghĩ, thì hiệu năng sẽ quy kết lại như giọt nước nhỏ xuống không ngừng cho tới khi nó thấu nhập mọi cơ thể của hoạt động và trở thành một sự kiện cụ thể của lý trí hay cả xác thân, trang 189 ”.
Như thế là khoa Phân Tâm cũng như khoa Huyền Niệm đều công nhận sự học thuộc lòng là rất cần thiết.
Do đó ta biết tại sao lúc xưa nhiều người học chữ Nho rất lơ mơ, mà lại sống theo Nho được rất nhiều, là vì nhờ học Nho từ còn bé, học thuộc lòng, nên đàng sau mỗi câu nói là một nguồn sống tâm linh kết tinh do biết bao nhiêu cảm xúc và kinh nghiệm của người xưa như còn phảng phất đâu đây, như được bọc trong ánh bình minh của dân tộc lúc còn đang bập bẹ dưới ánh sương mai của quê nước.
Nay mỗi thế hệ cũng như được học những câu sách đó nên mỗi câu hầu như được học bằng bầu khí tươi vui thơ mộng của thời khai quốc, của dân tộc, nên mỗi câu có thể xem như hồng huyết cầu thêm sinh khí cho cơ thể tinh thần, đồng thời gây nên giữa tất cả những người đã học một số những phản đáp có điều kiện làm nên một thứ quê hương tinh thần với một thứ ngôn ngữ riêng của nó tuy rất âm u, nhưng chỉ cần nhắc lại một hai câu thì hầu như tất cả đều rung lên theo một tiết điệu ràng buộc mọi người dân trong nước “ mối tình giáo khoa thư ”. Những ai đã có dịp xuất ngoại trong khi gặp người đồng hương nhắc đến một hai điệu hát cung hò, vài ba câu sách đã cùng học ở tuổi niên thiếu là khơi lại cả một khối tình u linh bát ngát khiến cho cảm thấy được cơ sở tinh thần của nước và mối tình dân tộc trở thành mạnh mẽ lạ thường.
Cho nên chương trình lý tưởng của bậc tiểu học phải gồm mấy sách nòng cốt của dân tộc, và hầu như không nên thay đổi. Chính vì thế phải học thuộc lòng bản văn, chứ không học bản dịch ( thí dụ Kinh Thi ), vì bản dịch sẽ thay đổi theo mỗi thời, rất cần cho mọi thế hệ gặp nhau.
Phương chi ở tiểu học không cần thay đổi, vì đây mới học những điều căn bản, là mấy yếu tố hầu như không mấy đổi thay. Đàng khác đối với trẻ nhỏ thì cái chi cũng còn là mới mẻ không cần phải luôn luôn đổi mới, khác với chương trình đại học năng phải đổi để theo kịp các bước tiến bộ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét