Người theo dõi

5 thg 6, 2011

Biết địch


Ý đồ Trung Quốc qua việc bố trí 7 Đại quân khu


Y do Trung Quoc qua viec bo tri 7 Dai quan khu
Bee.net.vn - 12 tháng trước 1748 lượt xem
- Nguồn lực về con người khiến Quân đội Trung Quốc trở thành một đối thủ đáng gờm. Ngoài ra, nhờ những tiến bộ vượt bậc mà đội quân này ngày càng trở nên mạnh hơn. Việc bố trí lực lượng của Trung Quốc luôn thu hút sự quan tâm của giới quân sự quốc tế.

Qua nghiên cứu bố trí lực lượng, người ta có thể đánh giá được mạnh yếu, chiến lược cũng như ý đồ quân sự của đất nước tỷ dân. Bài viết này, dựa trên nhiều tài liệu thu thập được của các chuyên gia quân sự Nga và các nguồn phân tích chiến lược phương Tây, sẽ cùng quý vị độc giả tìm hiểu thế bố trí lực lượng của Quân đội Trung Quốc, tức 7 đại quân khu của nước này.
Các chuyên gia quân sự Nga trong những năm gần đây đánh giá rất cao Quân đội Trung Quốc. Tuy nhiên, sự đánh giá này không dựa trên sức mạnh về khoa học kỹ thuật mà là sức mạnh “cơ bắp” – nguồn lực con người.
Nhiều nhà phân tích đánh giá, với sự “dư thừa” về con người như hiện nay (đặc biệt là nam giới), giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc có được điều mà nhiều nước có nằm mơ cũng không có. Họ có quyền lựa chọn trong quá trình tuyển quân để lấy được những thanh niên trai tráng nhất. Điều đó giúp cho sức mạnh về con người trở thành một yếu tố quan trọng và điểm nổi bật của Quân đội Trung Quốc.
Tỷ lệ nam/nữ hiện nay ở Trung Quốc vào khoảng 107/100. Trong khi đó, tỷ lên sinh của bé trai so với bé gái là 117:100, ở một số tỉnh thành tỷ lệ này là 130:100, cá biệt có khu vực là 152:100. Tất nhiên, sự mất cân bằng về giới đang khiến hàng chục triệu đàn ông Trung Quốc ế vợ. Nhưng xét về mặt nguồn lực con người cho quân sự, con số này được coi là “mơ ước” của nhiều quốc gia có tiềm lực kinh tế, đất đai rộng lớn nhưng lại ít ỏi về dân số.
Bố trí cụ thể
Trung Quốc có 7 đại quân khu là: Thẩm Dương, Bắc Kinh, Lan Châu, Tế Nam, Nam Kinh, Quảng Châu và Thành Đô.
1. Đại quân khu Thẩm Dương
Bộ Tư lệnh của Đại quân khu Thẩm Dương đặt tại Thẩm Dương, Liêu Ninh. Đại Quân khu này có 3 tập đoàn quân là: Tập đoàn quân số 16 (căn cứ đặt tại Trường Xuân, Cát Lâm), Tập đoàn quân số 40 (căn cứ đặt tại Cẩm Châu, Liêu Ninh) và Tập đoàn quân số 39 Bộ binh cơ giới (căn cứ đặt tại Doanh Khẩu, Liêu Ninh).
Về không quân, Đại quân khu Thẩm Dương có: 1 Quân đoàn không quân hỗn hợp số 1 (căn cứ đặt tại Trường Xuân, Cát Lâm), Sư đoàn tiêm kích số 1 được trang bị máy bay J-11 và J-8II (căn cứ đặt tại An Sơn, Liêu Ninh), Sư đoàn tiêm kích số 21 được trang bị máy bay J-7 và J-8 (căn cứ đặt tại Mẫu Đơn Dương, Hắc Long Giang), Sư đoàn tiêm kích số 30 được trang bị máy bay J-7E và J-8 (căn cứ đặt tại Đại Liên, Liêu Ninh) và Sư đoàn cường kích số 11 được trang bị máy bay Q-5 (căn cứ đặt tại Tứ Bình, Cát Lâm).
Đại quân khu Thẩm Dương có 1 lữ đoàn tên lửa chiến lược độc lập đặt tại Liễu Hà và 1 căn cứ thử nghiệm đặt tại Cát Lâm.
2. Đại quân khu Bắc Kinh
Căn cứ của đại quân khu này đặt tại thủ đô Bắc Kinh với 3 tập đoàn quân là: Tập đoàn quân số 27 đặt căn cứ tại Thạch Gia Trang, Hà Bắc; Tập đoàn quân số 38 Bộ binh cơ giới đặt căn cứ tại Bảo Định, Hà Bắc; Tập đoàn quân số 65 đặt căn cứ tại Trương Gia Khẩu, Hà Bắc.
Đại quân khu Bắc Kinh có 1 Quân đoàn không quân hỗn hợp số 10 (căn cứ đặt tại Đại Đồng, Sơn Tây); Sư đoàn tiêm kích số 7 được trang bị máy bay J-11 và J-7 (căn cứ đặt tại Trường Gia Khẩu, Hà Bắc); Sư đoàn tiêm kích số 15 được trang bị máy bay J-7C/D (căn cứ đặt tại Đường Sơn); Sư đoàn tiêm kích số 24 được trang bị máy bay J-7, J-8I (căn cứ đặt tại Dương Thôn); Sư đoàn vận tải số 34 đặt căn cứ tại Bắc Kinh; Trung tâm Huấn luyện và Bay thử nghiệm đặt tại Thương Châu, Hà Bắc.
Về Lực lượng tên lửa chiến lược, Đại quân khu Bắc Kinh có 1 lữ đoàn đặt tại Thiên Tân và 1 Trung tâm thử nghiệm đặt tại Ngũ Trại, Thái Nguyên.
Trong số 7 đại quân khu của Trung Quốc, 2 đại quân khu được đánh giá mạnh nhất là Thẩm Dương và Bắc Kinh. Cả 2 đại quân khu này đều nằm ở phía Bắc Trung Quốc. Trong khi đó, 2 đại quân khu sát biên giới phía Bắc nước ta là Thành Đô và Quảng châu.
Tập đoàn quân số 38 của Đại quân khu Bắc Kinh là đơn vị thường xuyên tiến hành các hoạt động nghiên cứu, chế tạo và thử nghiệm các loại vũ khí mới cũng như phương pháp ứng dụng và tổ chức. Pháo binh của Tập đoàn quân số 38 được tự động hóa hoàn toàn và có độ chính xác không hề thua kém pháo binh của Mỹ.
Riêng sư đoàn tăng số 6 trực thuộc Tập đoàn quân số 38 cũng được tự động hóa hoàn toàn và trang bị loại tăng hiện đại Type-96. Tốc độ tấn công của Tập đoàn quân số 38 lên đến 1.000km/tuần (150km/ngày đêm). Tập đoàn quân số 38 cũng là nơi có Lữ tên lửa phòng không số 4, được coi là lữ tên lửa phòng không hiện đại nhất với các tiểu đoàn tổ hợp tên lửa phòng không Tor.
3. Đại quân khu Lan Châu
Bộ Tư lệnh Đại quân khu Lan Châu đặt tại Lan Châu với 2 tập đoàn quân là: Tập đoàn quân số 21 Bộ binh cơ giới có căn cứ tại Bảo Kê, Thiểm Tây và Tập đoàn quân số 47 có căn cứ tại Tây An, Thiểm Tây.
Về không quân, Đại quân khu Lan Châu có: Sư đoàn ném bom số 25 trang bị máy bay H-6 đặt căn cứ tại Ngân Xuyên, Hồi Ninh Hạ; Sư đoàn ném bom số 36 trang bị máy bay H-6 đặt căn cứ tại Lâm Thông; Sư đoàn tiêm kích số 6 được trang bị máy bay J-11, J-7 và J-6, đặt căn cứ tại Ngân Xuyên, Hồi Ninh Hạ; Sư đoàn tiêm kích số 37 với máy bay J-6, J-7 và J-7E đặt căn cứ tại Urumchi, Tân Cương.
Lực lượng tên lửa chiến lược của Đại quân khu Lan Châu có 1 lữ đoàn nằm cách Tây An 10km về phía Nam và 1 Căn cứ thử nghiệm vũ khí hạt nhân tại Lốp Nho, Tân Cương.
4. Đại quân khu Tế Nam
Đại quân khu Tế Nam đặt căn cứ tại Tế Nam và có 3 tập đoàn quân, gồm: Tập đoàn quân số 20 đặt căn cứ tại Khai Phong, Hà Nam; Tập đoàn quân số 26 Bộ binh cơ giới đặt căn cứ tại Lai Dương, Sơn Đông và Tập đoàn quân 54 Bộ binh cơ giới đặt căn cứ tại Tân Hương, Hà Nam.
Không quân của Đại quân khu Tế Nam có Sư đoàn cường kích số 5 trang bị máy bay Q-5 đặt căn cứ tại Uy Huyện; Sư đoàn tiêm kích số 12 trang bị máy bay J-6, J-7 đặt căn cứ tại Tế Nam, Sơn Đông; Sư đoàn tiêm kích số 19 với máy bay J-11 đặt căn cứ tại Trịnh Châu, Hà Nam.
Đại quân khu chỉ có 1 lữ đoàn tên lửa chiến lược thuộc Lực lượng tên lửa chiến lược đặt tại Trịnh Châu, Hà Nam.
5. Đại quân khu Nam Kinh (đối diện Đài Loan)
Đại quân khu Nam Kinh có căn cứ Bộ Tư lệnh đặt tại Nam Kinh với 3 tập đoàn quân: Tập đoàn quân số 1 đặt căn cứ tại Hàng Châu, Chiết Giang; Tập đoàn quân số 31 đặt căn cứ tại Chương Phố, Phúc Kiến; Tập đoàn quân số 12 đặt căn cứ tại Hợp Phì, An Huy.
Không quân của Đại quân khu Nam Kinh có: Quân đoàn không quân tiêm kích số 8 đặt căn cứ tại Phúc Châu, Phúc Kiến; Sư đoàn tiêm kích số 26 trang bị máy bay J8II đặt căn cứ tại Sàng Minh, Thượng Hải; Sư đoàn tiêm kích số 14 được trang bị máy bay J-7 đặt căn cứ tại Nam Xương, Giang Tây; Sư đoàn cường kích số 28 được trang bị máy bay Q-5 đặt căn cứ tại Hàng Châu, Chiết Giang; Sư đoàn tiêm kích số 29 với các loại máy bay J-13, J-7/B/D đặt căn cứ tại Huyện Hàng, Chiết Giang; Sư đoàn tiêm kích số 3 với máy bay J-13, J-7E đặt căn cứ tại Vu Hồ, An Huy; Sư đoàn ném bom số 10 trang bị máy bay H-6 đặt căn cứ tại An Khánh, An Huy.
Lực lượng tên lửa chiến lược của Đại quân khu Nam Kinh rất mạnh với Lữ đoàn tên lửa 815 trang bị tên lửa M-9 và M-11 đặt căn cứ tại Lạc Bình, Giang Tây và 1 trung đoàn tên lửa độc lập đặt căn cứ tại An Huy.
Đại quân khu Nam Kinh cũng là nơi tập trung lực lượng thủy quân lục chiến đông đảo và số lượng xe thiết giáp lội nước đông đảo. Ngoài ra, Đại quân khu Nam Kinh là nơi duy nhất có sư đoàn tăng lội nước Type-63 cùng lực lượng đặc nhiệm đổ bộ tinh nhuệ.
Việc bố trí lực lượng theo lãnh thổ của Trung Quốc được rất nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các nước láng giềng. Trong số các cường quốc quân sự, Nga là nước có đường biên giới với Trung Quốc. Trong những năm gần đây, thậm chí nhiều nhà quân sự Nga công khai bày tỏ lo ngại đối với việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh cho 2 đại quân khu Bắc Kinh (giáp vùng Siberia) và Thẩm Dương (giáp Vladivostok).
Trong phần sau, tác giả sẽ cùng quý vị độc giả tìm hiểu bố trí cụ thể của 2 đại quân khu phía Nam của Trung Quốc là Đại quân khu Quảng Châu và Đại quân khu Thành Đô. Đây là 2 đại quân khu giáp biên giới Việt Nam.
Trong bài tiếp theo, Bee sẽ giới thiệu kĩ về 2 đại quân khu sát biên giới phía Bắc nước ta là Thành Đô và Quảng châu.
Dưới đây là chùm ảnh về hoạt động quân sự của một số quân khu Trung Quốc
Chùm ảnh tập trận của Đại quân khu Thẩm Dương:
Chùm ảnh tập trận của Đại quân khu Nam Kinh:
Chùm ảnh tập trận của Đại quân khu Lan Châu với những binh sĩ làm nhiệm vụ chống khủng bố:
Bảo Minh (Tổng hợp)

Đại Việt ra tay trước


http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Ung_Ch%C3%A2u


Đại Việt ra tay trước

Năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên thay, tức là vua Lý Nhân Tông. Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, được sự phò tá của các đại thần Lý Thường KiệtLý Đạo Thành nên tình hình quốc gia vẫn khá ổn định.
Tuy Tống cố gắng giữ bí mật, nhưng tình báo của Đại Việt vẫn nắm được ý đồ của quân Tống. Đặc biệt, năm 1073, một tiến sỹ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã thông báo với nhà Lý. Bởi thế Đại Việt đã nắm được khá đầy đủ tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống. Lúc này số quân Tống đang tập hợp ở các căn cứ Ung, Khâm, Liêm khoảng 10 vạn đang luyện tập, song chưa thể đánh ngay được vì số quân này là quân Hoa Nam vừa mới tuyển. Nhà Tống sẽ rút 45 ngàn cấm binh thiện chiến ở phương bắc để lập đạo quân chủ lực, thì việc đó làm chưa song. [8][9]
Trước tình hình đó, thái úy Đại Việt là Lý Thường Kiệt cho rằng: Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu, Tiên phát chế nhân. Ông quyết định mở trận tiến công quy mô sang đất Tống. [10] [11]

Khói lửa



Lá phiếu trong khói lửa


Ngày bầu cử đầu tiên (Kỳ: 3)
La phieu trong khoi lua
Nhân dân Nam bộ đi bầu cử ngày 6-1-1946 - Ảnh tư liệu
Chúng tôi chuẩn bị bỏ phiếu, một chiếc máy bay Nhật quần đảo trên đầu rồi giội bom xuống. Khói lửa ngút trời. Ai đó hét cho mọi người tản ra rồi chờ ngớt khói lửa thì quay lại bỏ phiếu tiếp. Ở nội thành Sài Gòn, họng súng của quân Pháp lăm le giương cao, sẵn sàng xả đạn để phá hoại cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước VN độc lập.
Lá phiếu thấm máu
26 tuổi, tôi rời Trường Luật ở Hà Nội, trở về miền Nam với gánh nặng của lời thề tại đền thờ vua Hùng ở miền Bắc. Tôi nhớ ngày ấy, luật sư Dương Đức Hiền (sau này là bộ trưởng Bộ Thanh niên trong Chính phủ Hồ Chí Minh) đã gióng 10 tiếng chuông lễ và trịnh trọng đọc lời thề: “Thề trước vong linh tổ tiên rằng TS chúng tôi nguyện tiếp tục sự nghiệp cứu nước của cha ông, không hề lùi bước trước cạm bẫy, đàn áp của quân cướp nước”. Cho tới tận bây giờ, tôi không thể nào quên cảnh hàng ngàn học sinh, sinh viên đã cúi rạp người lên tiếng: “Xin thề!” vang vọng cả núi rừng. Gánh nặng trên vai ấy càng nặng hơn khi tôi trở thành ứng cử viên đại biểu Quốc hội trong đợt tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới thành lập.
La phieu trong khoi lua
Chứng nhân lịch sử: ông Huỳnh Văn Tiểng sinh năm 1920, đắc cử đại biểu Quốc hội năm 1946, là thành viên liên tục năm khóa của Quốc hội từ năm 1946-1975. Ông là giám đốc đầu tiên của Đài truyền hình TP.HCM - Ảnh: T.Hùng
Trưởng ban tổ chức tổng tuyển cử thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ là anh Nguyễn Văn Tư, anh em còn gọi là Tư Carê, vốn là công nhân Hãng Ba Son, ủy viên ban lãnh đạo Công đoàn Sài Gòn, ủy viên Ủy ban kháng chiến nội thành Sài Gòn.
Ngày đó, ban tổng tuyển cử sau khi bàn bạc, quyết định công tác tuyên truyền sẽ được chia làm hai địa bàn với tính chất khác nhau. Địa bàn thứ nhất gồm các vùng ngoại thành: Vườn Thơm, Gò Xoài, Bình Chánh, Bình Xuyên, Bà Quẹo, Bà Điểm, Thủ Đức, An Phú Đông, Nhà Bè... Khu vực này chính quyền cách mạng làm chủ, có thể chủ động tổ chức tuyên truyền ngày cũng như đêm về thể lệ, yêu cầu về mục đích ý nghĩa của một cuộc tổng tuyển cử. Người dân ngoại thành ồ ạt đăng ký vào danh sách cử tri. Ban tổ chức lập ra nhiều tiểu ban kiểm tra các phòng phiếu.
Những đợt bỏ phiếu liên tục bị ngắt quãng vì những trận càn quét dưới đất và trên không. Cuộc phổ thông đầu phiếu vùng ngoại thành diễn ra suốt ngày đêm 6-1-1945, như một “phép thử” đối với chính quyền cách mạng còn non trẻ của vùng ngoại thành Sài Gòn.
Địa bàn thứ hai, địa bàn khó nhất, là nội thành Sài Gòn. Bởi chúng tôi biết Sài Gòn những ngày bị tái chiếm là họng súng, lưỡi lê, là mạng lưới mật thám sẵn sàng rình rập, bắt bớ ngăn cản, thậm chí ám sát các đại biểu để có thể chặn đứng cuộc tổng tuyển cử đầu tiên. Tuy du kích nội thành hoạt động sôi nổi để “trừ gian, diệt tề” và gần như làm chủ thành phố về đêm và được sự hỗ trợ của lực lượng du kích ngoại thành từ miền Tây, miền Đông, Bình Xuyên..., nhưng đó là những cuộc chiến thoắt ẩn, thoắt hiện và về mặt chính thức, ban tổ chức tổng tuyển cử không thể mở những cuộc tuyên truyền rộng lớn như ngoại thành.
Trong bối cảnh đó, cán bộ ban tổ chức len lỏi từng gia đình giải thích ý nghĩa, mục đích của tổng tuyển cử và vận động đồng bào nội thành đến tham gia sinh hoạt ở các vùng ven đô. Sau đó, ban tổ chức bí mật đưa các đoàn đại biểu nội thành qua các vòng vây của đối phương ở Phú Thọ, Bà Quẹo..., để qua các vùng đầm lầy của khu vực nông trường Lê Minh Xuân, Phạm Văn Cội bây giờ để đến với An Phú Đông.
Và máu đã đổ. Những cuộc phục kích, bố ráp của quân đối phương đã diễn ra. Có những chuyến đi trót lọt, nhưng chuyến về trở thành những giao tranh đẫm máu. 37 cán bộ ban tổ chức bầu cử đã ngã xuống để bảo vệ những thùng phiếu và những cử tri của mình. Và anh Tư Carê cũng đã ra đi trong ngày gần cuối của đợt bầu cử. Lá phiếu đã thấm đượm nhiều máu, cái giá của độc lập chủ quyền được trả bằng máu của đồng đội, bạn bè tôi.
Ở tuổi 26, tôi đã trở thành một trong những nghị viên đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.
Kế sách Hồ Chí Minh
Anh Hoàng Quốc Việt thúc giục liên tục: Chuẩn bị lên đường, chuẩn bị lên đường gấp! Vừa bỏ xong lá phiếu của ngày 6-1-1946, chúng tôi lên đường ra Bắc. Nhiệm vụ của những ứng cử viên miền Nam ngoài chuyện bảo vệ bản thân mình khỏi những âm mưu ám sát, bắt cóc của đối phương còn phải có mặt kịp thời tại miền Bắc sau khi có kết quả bầu cử. Chúng tôi phải có mặt tại Hà Nội để chứng minh có một Quốc hội hợp pháp đại diện cho cả dân tộc VN đã được người dân Việt bầu chọn. Đại biểu Nam bộ sẽ là một minh chứng hùng hồn nhất về Quốc hội của nước VN thống nhất.
Ngoài đại biểu Tôn Đức Thắng đi bằng thuyền, những người còn lại trong đoàn của Sài Gòn đi bằng đường bộ. Chúng tôi phải sử dụng toàn bộ các phương tiện có được, từ đi ngựa, đi bộ, đi voi, thuyền... vượt qua rừng sâu núi cách để bằng mọi giá phải về tới Hà Nội đúng ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội đầu tiên. Lúc đầu, chúng tôi đi thuyền. Có đoạn ở cực Nam Trung bộ phải đi bằng ngựa, voi, có lúc bị cọp Khánh Hòa rình rập, nhiều lần bị phục kích ở Quảng Nam, Thừa Thiên.
Từng có hàng chục ngày, anh em trong đoàn sống bằng gạo muối và rau tàu bay. Ra đến Hà Nội, tất cả bị sốt rét. Tôi không dự được ngày họp đầu tiên của Quốc hội. Đến lần họp sau (15-3-1946), tôi đại diện cho đại biểu miền Nam đứng lên tố cáo việc Pháp chiếm đóng trái phép Nam bộ và việc chỉ định 70 đại biểu của Việt Nam quốc dân đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội vào Quốc hội mà không qua bầu cử. 26 tuổi, tôi - một trí thức trẻ - đầy ắp nhiệt tình và hết sức hùng biện.
Sau cuộc họp, tôi được Bác Hồ gọi lên và chắc mẩm mình sẽ được khen vì bài hùng biện. Không ngờ, Bác nói đơn giản: “Chú nói rất tốt nhưng phải lưu ý kiểm tra được những điều mình đang nói!”. Tôi bối rối: “Thưa Bác, tất cả những điều đó cháu đã bàn bạc với đoàn trước khi nói”. Bác bảo: “Biết rồi, nhưng ta có thể nói một cách khác mà!”. Tôi hỏi cách nào, Bác lúc đó đứng cách tôi 2m, cầm lấy cây viết chì của Người rồi bất ngờ quăng vào bụng tôi. Tôi giật thót người. Bác cười: “Đó là cách thứ nhất. Và đây là cách thứ hai”. Người nhặt cây bút chì lên, đưa tận tay tôi: “Hãy cầm và đưa trong yên ổn, hòa bình!”. Tôi bừng tỉnh trong một cảm giác có chút xấu hổ và tự hào được Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy cho một bài học đầu tiên về ứng xử trong thời cuộc đầy thách thức.
Một hiện tượng chính trị đầu năm 1946 ở Sài Gòn (sau khi bị thực dân Pháp tái chiếm 3-4 tháng) là Ủy ban hành chính thành phố (đóng ở ngoại ô tây nam) đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. 40.000 cử tri nội thành đã bỏ phiếu bầu những đại biểu xứng đáng: Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Trấn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Tư. Không có phòng bỏ thăm cố định cho mỗi khu phố nhưng ở khu phố nào, kể cả các khu phố trung tâm, đều có cán bộ chiến sĩ đem thùng phiếu tới nhà, tới ngõ cho đồng bào bỏ thăm. Cả Sài Gòn - Chợ Lớn có hàng trăm thùng phiếu như vậy. 42 cán bộ, chiến sĩ ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã hi sinh.
(Nguồn: Địa chí văn hóa TP.HCM và 60 năm Quốc hội Việt Nam 1946-2006, NXB Thông Tấn 2006)
HUỲNH VĂN TIỂNG (Nguyễn Văn Tiến Hùng ghi)
Khói lửa chiến tranh lan thành hình vòng cung từ Vĩnh Long đến tận Cần Thơ. Bên kia đường là đối phương chiếm đóng ngày đêm, bên này đường người ta kéo nhau đi bầu cử. Ai cũng muốn tận tay mình bỏ phiếu cho nền dân chủ Việt Nam.
Kỳ tới: Bầu cử ở miệt cù lao
Việt Báo (Theo_TuoiTre)


http://vietbao.vn/Phong-su/La-phieu-trong-khoi-lua/40201614/263/

Trả lời chất vấn

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời chất vấn Quốc hội


Sáng 28/10/1946, khóa họp lần thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Các đại biểu đứng lên chất vấn những công việc mà dân đã ủy nhiệm cho Chính phủ. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ trả lời chất vấn.
Chu tich Ho Chi Minh tra loi chat van Quoc hoi
Hàng vạn nhân dân đón mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị được giới thiệu ứng cử đại biểu QH tại Hà Nội (5/1/1946). Ảnh tư liệu.
“Chất vấn biểu lộ tinh thần dân chủ”
Sáng 28/10/1946, khóa họp lần thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Nhà hát Lớn sáng hôm ấy được trang hoàng đầy vẻ mỹ thuật và uy nghiêm. Trên tường, tấm vải đỏ căng những dòng chữ vàng: “Đoàn kết, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc”.
Ở trước Nhà hát Lớn, nhân dân tụ họp khá đông để theo dõi buổi họp Quốc hội qua máy phát thanh. Đúng 8 giờ các đại biểu Quốc hội đến đầy đủ, có cả quan khách ngoại quốc như lãnh sự Anh, Mỹ, Trung Hoa, Thụy Sĩ; các phóng viên của Mỹ, Pháp, Anh...
Chu tich Ho Chi Minh tra loi chat van Quoc hoi
Toàn thể đại diện Quốc hội khóa I chụp ảnh với Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tất cả đang chờ đợi một khóa họp Quốc hội mà chỉ nghe qua chương trình nghị sự đã có thể cảm nhận được tầm quan trọng của nó đối với vận mệnh đất nước: Các Bộ trưởng trả lời chất vấn; Hồ Chủ tịch trả lời chất vấn; Chính phủ từ chức; Quyết nghị của Quốc hội đối với Chính phủ; Trình bày dự án Hiến pháp; Thảo luận Hiến pháp…
Buổi họp ngày 31/10, người dân đến dự thính buổi họp Quốc hội tăng đột biến. Hai tầng gác Nhà hát Lớn kín những người ngồi, đứng. Người dân đến đông để chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, một cảnh tượng do Cách mạng tháng Tám mang lại: các đại biểu của nhân dân đứng lên chất vấn những công việc mà nhân dân đã ủy nhiệm cho Chính phủ gánh vác.
Quốc hội – với đại diện của nhiều thành phần như Dân chủ, Xã hội, Việt Minh… đã đặt ra nhiều câu hỏi chất vấn Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Hồ Chủ tịch bước lên diễn đàn, ôn tồn nói: “Sáng nay, Chính phủ nhận được 62 câu hỏi. Nửa tiếng đồng hồ lại nhận thêm được 26 câu hỏi nữa. Tất cả 88 câu. Chính phủ trước hết xin cảm ơn Quốc hội vì đã tỏ rõ Quốc hội hết sức quan tâm về các vấn đề của Quốc gia và sự chất vấn này có thể biểu lộ được rõ ràng tinh thần dân chủ thật thà của nước Việt Nam.
Chính phủ đã xét kỹ từng câu hỏi ấy và chia ra làm hai loại: Nội chính và ngoại giao. Trong hai loại ấy lại chia ra những câu thuộc về từng Bộ: Quân sự, Quốc phòng, Ngoại giao, Kinh tế… Những câu hỏi chú trọng nhất là về quân sự, rồi đến tài chính, tư pháp, nội vụ"…
Hồ Chủ tịch trả lời một số câu hỏi: “Về ông Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, ông nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Tường Tam và ông nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy hội Vũ Hồng Khanh. Các ông ấy bây giờ không có mặt ở đây. Lúc nước nhà đang gặp bước khó khăn, quốc dân tin ở người nào mới trao cho người ấy công việc lớn. Thế mà các ông ấy lại bỏ đi thì các ông ấy phải tự hỏi lương tâm thế nào.
Trả lời thế là đủ. Những người bỏ việc đi kia, họ không muốn gánh việc nước nhà hoặc họ cũng không đủ sức mà gánh nổi. Nay chúng ta không có họ ở đây, chúng ta cũng cứ gánh được như thường. Nhưng nếu các anh em ấy biết nghĩ lại mà trở về thì chúng ta cũng hoan nghênh”.
Sau đó, Hồ Chủ tịch trả lời một số câu hỏi chất vấn về đường lối ngoại giao của Chính phủ. Trả lời xong, trước khi bước xuống, Người nói với toàn thể Quốc hội: “Nếu trong Chính phủ, có những người khác lầm lỡ thì lỗi ấy tôi xin chịu, xin gánh và xin lỗi đồng bào”. Tiếng vỗ tay theo Hồ Chủ tịch cho đến khi Người về chỗ ngồi.
Vì sao bán thuốc không kiểm soát giá và chất lượng?
Đến lượt các thành viên Chính phủ tiếp tục trả lời chất vấn. Bà Nguyễn Thị Thục Viên chất vấn ông Trương Đình Tri (Bộ trưởng Bộ Y tế và Xã hội) vì sao việc bán thuốc lại không kiểm soát giá và chất lượng thuốc?
Ông Trương Đình Tri trả lời: Việc đó rất đáng tiếc, nhưng không làm thế nào được vì không có hội đồng hóa giá. Từ khi Nhật đảo chính Pháp, thuốc chữa bệnh đã tràn vào lộn xộn.
Bộ Y tế và Xã hội đã chỉ thị cho các nhà buôn còn giữ thuốc không độc và thông thường thì phải khai và chỉ được phép bán đến cuối năm 1946. Đã có sắc lệnh cho kiểm soát chất lượng thuốc, nhất là thuốc tiêm. Ai khiếu nại sẽ xét cẩn thận.
Ông Nguyễn Đình Thi chất vấn Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Ca Văn Thỉnh về chính sách văn hóa của Chính phủ. Ông Ca Văn Thỉnh cho biết: Đại thể chính sách ấy là xây dựng một nền văn hóa dân chủ thay vào nền văn hóa cũ, chịu ảnh hưởng phong kiến và thực dân.
Nền văn hóa ấy phổ cập cho tất cả nhân dân cùng hưởng thụ và tham dự. Nó phải có tính cách dân chủ và dân tộc. Nhưng cái tính cách quốc gia này không hẹp hòi vì nền văn hóa ấy sẽ thâu nhận tất cả những ưu điểm và tinh hoa của các nền văn hóa trên thế giới.
Ông Hoàng Đạo Thúy tỏ ra lo ngại về cấp tiểu học năm nay bắt đầu chậm và thiếu sách giáo khoa. Bộ trưởng Ca Văn Thỉnh trả lời: Năm nay học trò tiểu học nhập trường chậm mất 15 ngày, điều đó vì tình thế. Các trường đến đây bị quân ngoại quốc dùng làm nơi ở. Sau đó phải sửa sang lại nhiều.
Còn sách giáo khoa là một vấn đề rất khó khăn vì giấy in và nhà in chưa giải quyết được. Bản thảo những sách ấy đã có hết rồi chỉ chờ lần lượt xuất bản. Để bù vào chỗ thiếu, Bộ Giáo dục đã ra một tờ giáo dục tân văn.
Cũng trong phiên chất vấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến trả lời về ngân sách, thuế khóa, lương công chức… Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe nói về việc áp dụng luật của Việt Nam với người ngoài quốc sống ở Việt Nam và làm thế nào để ngăn chặn nạn hối lộ. Nghị trường thực sự “nóng” khi những vấn đề liên quan đến sự tồn vong của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được các đại biểu nêu câu hỏi chất vấn.
Đại biểu Trần Đình Tri tỏ ra lo lắng trước tin đồn ông Nguyễn Hải Thần tự phong chức Tổng Tư lệnh hải, lục, không quân, lập Chính phủ ở hải ngoại. Trong tình thế nước nhà chuyển sang giai đoạn mới, phải có một Chính phủ mạnh mẽ đủ uy tín để đối nội cũng như đối ngoại. Chính phủ đó phải là một Chính phủ liêm khiết…
“Sẽ dùng luật pháp trị cho kỳ hết những kẻ ăn hối lộ”
Buổi họp kéo tới tối 31/10/1946. Từ trên diễn đàn ánh sáng của chiếc đèn có chụp hắt xuống bàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt toàn thể Chính phủ trả lời chất vấn trước khi Chính phủ từ chức. Người nói: “Chính phủ hiện thời thành lập mới hơn một năm, hãy còn thanh niên. Quốc hội bầu ra được hơn 8 tháng lại còn thanh niên hơn.
Vậy mà Quốc hội đã đặt ra những câu hỏi thật già dặn, đề cập đến tất cả những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Với sự trưởng thành chính trị và sự quan tâm về việc nước ấy, ai dám bảo dân ta không có tư cách độc lập”.
Hồ Chủ tịch lần lượt trả lời từng câu hỏi. Về câu chất vấn: “Vì sao Chính phủ đưa đề nghị thay Quốc kỳ lên Thường trực Quốc hội xem xét?”, Hồ Chủ tịch nói: “Chính phủ không bao giờ dám đòi thay đổi Quốc kỳ. Chỉ vì một vài người trong Chính phủ đề nghị việc ấy lên, nên Chính phủ phải để Thường trực Quốc hội xét. Tình thế từ ngày ấy đến giờ biến chuyển nhiều, lá cờ đỏ sao vàng đã nhuộm bao nhiêu máu chiến sỹ Việt Nam ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đã đi từ Á sang Âu, lại từ Âu sang Á, tới đâu cũng được chào kính cẩn”.
Nói đến đây mắt Người sáng quắc lên, giọng Người vang to hơn và nhấn mạnh từng tiếng: “Trừ khi cả 25 triệu đồng bào, còn ngoài ra không ai có quyền gì mà đòi thay đổi nó”.
“Còn cái tin ông Nguyễn Hải Thần, tự xưng là Tổng Tư lệnh Hải, Lục, Không quân Việt Nam? Nếu Việt Nam không có Hải, Lục, Không quân thì ông Nguyễn Hải Thần cứ việc làm Tổng Tư lệnh! Và nếu Việt Nam không có Hải, Lục, Không quân mà ông Nguyễn Hải Thần tổ chức được hải lục không quân cho Việt Nam thì cố nhiên chúng ta hoan nghênh”.
“Về việc Chính phủ liêm khiết, thì Chính phủ hiện tại đã cố gắng liêm khiết. Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh cho đến những người làm việc ở các Ủy ban đông lắm và phức tạp lắm. Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương. Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng luật pháp mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”.
Bằng lối nói đặc biệt của mình, lấy những ví dụ dễ hiểu để diễn đạt những nội dung sâu sắc, lý luận chặt chẽ, đanh thép, Hồ Chủ tịch đã trả lời hết các câu hỏi chất vấn. Mỗi khi Người kết thúc một câu trả lời thì tiếng vỗ tay lại đồng loạt vang lên.
12 giờ kém 15 phút, Hồ Chủ tịch tuyên bố thay mặt Chính phủ hiện thời xin từ chức, trao quyền lại cho Quốc hội để Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ bầu ra một Chính phủ mới.
“Tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam”
Quốc hội thảo luận và đã đưa ra quyết nghị: Ủy nhiệm cụ Hồ Chí Minh lập Chính phủ mới theo nguyên tắc đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.
Hồ Chủ tịch lại lên diễn đàn, cảm ơn Quốc hội rồi nghiêm trang tuyên bố:“Lần này là lần thứ hai, Quốc hội lại giao cho tôi phụ trách Chính phủ một lần nữa. Việt Nam chưa được độc lập, chưa được thống nhất thì bất kỳ Quốc hội ủy cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm.
Tôi xin nhận. Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái.
Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân, trước thế giới rằng tôi chỉ có một đảng: Đảng Việt Nam. Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước Quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết.
Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích: Trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập, thống nhất của nước nhà. Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và Quốc dân, dẫu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà Quốc dân và Quốc hội đã trao cho”.
Tiếng vỗ tay vang rền trong Nhà hát lớn. Phiên họp Quốc hội kết thúc lúc 1 giờ đêm.
-----------------------------------
Theo Phùng Nguyên - Tiền Phong
+ Bài báo có sử dụng tư liệu của báo Cứu Quốc và báo Dân Thanh